Hiểu chung về nhà thờ họ (Khái niệm)

Người xưa cũng có câu: “Chim có tổ, người có tông”, người có tông là người có gốc tích, tổ tiên sinh ra mình. Dù làm gì, dù ở đâu, song dòng tộc, Tổ Tiên vẫn mãi là điều thiêng liêng nhất trong mỗi một con người. Thời cuộc có lúc thịnh suy, thay đổi, nhưng dòng tộc sẽ tồn tại và vững bền mãi mãi.

Học giả Đào Duy Anh đã từng viết: “Chủ nghĩa dòng tộc, đó là nét văn hóa Việt”, và một khi nó đã trở thành văn hóa, thì nó đã được chọn lọc và tồn tại mãi mãi.

Nhà thờ họ là một công trình kiến trúc xây dựng mang ý nghĩa thiêng liêng cao cả đối với mỗi một dòng họ, tính theo phụ hệ tức dòng họ của cha và cũng là nơi để lưu giữ gia phả gốc của dòng họ. Đây là nơi con cháu trong dòng họ thờ cúng, tưởng nhớ đến công ơn của những bậc Thủy Tổ của dòng họ. Là nơi lưu giữ những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp nhất của mỗi dòng họ. Chính bởi ý nghĩa thiêng liêng đó mà con cháu trong dòng họ đều muốn đầu tư xây dựng nên một ngôi nhà họ đẹp nhất, khang trang nhất cho các bậc tiền nhân.

Nhà thờ họ rất phổ biến trong văn hóa người Việt tại khu từ khu vực đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ đển Trung bộ.

Ngoài ra, trong mỗi dòng họ, thì khi Chi, nhánh hình thành, phát triển và được phân chi thì mỗi chi đều có thể xây dựng riêng cho mình mỗi nhà thờ tại dòng trưởng nam của các chi, nhánh để có nơi thờ cúng riêng từ đời ông tổ chi trưởng, gọi là nhà thờ chi họ (hay cửa họ). Ví dụ như nhà thờ: chi họ Nguyễn Hữu, chi họ Nguyễn Văn, chi họ Nguyễn Đình, …

Hàng năm vào ngày lễ giỗ tổ tiên tại nhà thờ họ là dịp hội họp lớn nhất của tộc họ, nó đồng thời cũng là dịp để tạo sự gắn kết trong dòng họ, kết nối tình thương và mối quan hệ lâu bền của mỗi dòng họ.

Đặc điểm và phân loại kiến trúc Nhà thờ họ

Về hình thức kiến trúc, Nhà thờ họ khá gần gũi với kiến trúc nhà ở dân gian. Về công năng, Nhà thờ họ là công trình tín ngưỡng để thờ cúng Tổ tiên. Đây là hai yếu tố chính tạo nên đặc trưng phong cách kiến trúc Nhà thờ họ và duy trì một nguyên tắc cơ bản luôn lôn phải tuân thủ trong bố cục Nhà thờ họ là nguyên tắc đăng đối qua trục thần đạo (trục tưởng tượng đi qua chính giữa nhà thờ ). Nguyên tắc đăng đối này bao trùm trong toàn bộ mẫu thiết kế Nhà thờ họ: từ hình khối kiến trúc, trang trí trên kiến trúc, sắp xếp các ban thờ, bài trí nội thất đến bố trí sân vườn cảnh quan phía trước…

Ngoài ra, Nhà thờ họ mang tính cá thể cao chứ không mang nhiều tính cộng đồng như những công trình tĩn ngưỡng công cộng như đình, chùa.

a. Phân loại kiến trúc Nhà thờ họ theo thời gian

Về đặc điểm kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam theo thời gian, có thể phân thành 2 loại: Nhà thờ họ có niên đại sớm được xây từ lâu và Nhà thờ họ mới xây dựng trong vài chục năm trở lại đây. Tuy nhiên hiện nay hầu như không còn những Nhà thờ họ có niên đại sớm vì đã được cải tạo lại.

– Công trình Nhà thờ họ thời xưa chúng ta thấy chủ yếu là xây bằng những vật liệu rất đơn giản, tự nhiên như gỗ, đất đá, lợp ngói, tuy nhiên những vật liệu đơn giản đó khi trải qua sự tàn phá lịch sử sẽ không thể trụ vững đến ngày nay hoặc đã được tôn tạo lại từ lâu.

– Các mẫu kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam ngày nay thì hầu hết được xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ, các loại đá tự nhiên qua điêu khắc do giá thành hợp lý, vừa bền, rẻ hơn rất nhiều so với sử dụng gỗ truyền thống.

b. Đặc điểm các kiểu kiến trúc Nhà thờ họ theo hình dáng

Thông thường một Nhà thờ họ điển hình chỉ là một ngôi nhà hình chữ Nhất nằm ngang với 2 mái trước và sau theo kiểu thu hồi bít đốc (hồi văn), hoặc ngói mĩ dân dã (ngói di), quy mô công trình thường từ 3 đến 5 gian. Nhà thờ mặt bằng chữ Nhất được xây dựng theo kiểu 1 ngôi nhà truyền thống 2 mái.

Nhà thờ họ chữ Nhị là một ngôi nhà 2 gian song song với nhau, gian ngoài có thể là nơi tiếp khách hoặc nhà bái đường, gian sau là nơi thờ tụng.

Nhà thờ họ mặt bằng chữ Quốc: là một công trình Nhà thờ họ xây dựng trên mặt bằng như hình chữ Quốc trong tiếng Hán, với kết cấu 4 khối, một khối cổng tam quan, nhà thờ ở giữa cùng với đó là 2 khối dải vũ 2 bên tổng thể tạo thành hình chữ quốc. Không gian dài khoảng 3 gian. Sân trong được thiết kế ngay lối vào trước.

Nhà thờ họ mặt bằng chữ Công: hay còn gọi là nội công ngoại quốc có nhà chính điện và nhà mái đường song song với nhau và được nối với nhau bằng một ngôi nhà gọi là nhà thiêu hương, nơi sư làm lễ.

Nhà thờ mặt bằng chữ Đinh: Nhà thờ chữ Đinh thiết kế giống như kiến trúc chùa chữ Đinh: có nhà chính điện hay còn gọi là thượng điện, là nhà đặt các bàn thờ Phật, được nối thẳng góc với nhà bái đường hay nhà tiền đường ở phía trước.

Thiết kế kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam kiểu 4 mái, 8 mái: là công trình nhà thờ họ truyền thống phổ biến cho các tỉnh miền Bắc. Nhà 4 mái có 1 lớp mái thành 4 mặt có 2 mặt mái chữ A. Nhà 8 mái có 2 lớp mái chồng lên nhau như thế. 

Nhà thờ họ kết hợp nhà ở: Với những công trình kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam kết hợp nhà ở, việc thờ cúng tổ tiên được bố trí ở các gian giữa, chỗ để ở được bố trí 2 bên gian hồi. Tuy nhiên đúng theo truyền thống thì Nhà thờ họ thường được xây tách riêng khỏi nhà ở, có thể nằm trên một mảnh đất riêng biệt, có thể nằm trên khuôn viên đất ở của vị trưởng họ.

c. Vì sao kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam không chạm rồng 5 móng ?

Trang trí Nhà thờ họ theo xu hướng tập trung vừa ở bên trong và bố trí cảnh quan sân vườn bên ngoài nhà thờ họ. Được phân thành hai loại chính: Thứ nhất là trang trí trên các cấu kiện kiến trúc, thứ hai là trang trí trên các đồ vật nội thất. Trang trí trên cấu kiện kiến trúc là những trang trí cố định không thể tháo rỡ nên thường có cùng phong cách nghệ thuật ở thời kỳ xây dựng, còn các vật dụng nội thất thường có sự bổ sung, thay đổi theo thời gian nên các trang trí trên mỗi vật dụng có phong cách khác nhau.

Trang trí trên cấu kiện kiến trúc xuất phát từ mục đích vừa làm đẹp vừa làm giảm sự thô mộc, nặng nề của cấu kiện gỗ, song tùy thuộc vào khả năng đầu tư mà mức độ trang trí có thể nhiều, ít khác nhau ở từng Nhà thờ họ. Trang trí trên kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam rất ít dùng hình tượng rồng mà hay sử dụng các hình tượng thuần túy mang tính trang trí (như hình hoa lá, hình kỷ hà…), hoặc các biểu tượng thiêng (như hình vân xoắn, hình đao mác…). Mặc dù vậy, một số nhà thờ của những dòng họ có người làm quan cũng trang trí hình rồng trên kiến trúc, nhưng rất hạn chế và các hình rồng này thường được cách điệu, biến tấu đi (trúc hóa rồng, mai hóa rồng, mây hóa rồng, lá hóa rồng, cá hóa rồng…).

Sở dĩ có đặc điểm này là do các Nhà thờ họ truyền thống còn tồn tại đến nay chỉ có niên đại xây dựng từ cuối thế kỷ XVII tới đầu thế kỷ XX, khi mà Nho giáo đã ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân Việt. Theo quan niệm của Nho giáo thì rồng là biểu tượng cho tầng trên, đặc biệt là rồng có 5 móng chân tượng trưng cho Thiên tử.

Ngoài ra Nhà thờ họ không phải là nơi thể hiện tính quyền lực, chính vì vậy rất ít sử dụng hình tượng rồng trên kiến trúc. Tuy vậy trên các đồ thờ vẫn thường được chạm rồng do quan niệm thần thánh hóa tổ tiên của người Việt, tất nhiên cũng chỉ được chạm rồng 4 móng mà không được chạm rồng 5 móng.

Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, do những biến động của lịch sử mà ảnh hưởng của Nho giáo trong cuộc sống xã hội ngày càng mờ nhạt đi, các chế định xã hội và cộng đồng cũng lỏng lẻo dần trước những trào lưu văn hóa và những nhu cầu mới. Việc xây dựng kiến trúc Nhà thờ họ Việt Nam vì thế cũng không còn tuân thủ chặt chẽ những quan niệm và ước định vốn có mà trở nên  ngày càng đa dạng hơn về quy mô và kiểu thức kiến trúc. Từ giai đoạn này đã xuất hiện những Nhà thờ họ có bố cục mặt bằng phức tạp (chữ Nhị, chữ Đinh, chữ Công, tứ thủy quy đường…) và cả những Nhà thờ họ với các góc đao cong vút.

Cách thức bố trí

Trong Nhà thờ họ, các ban thờ thường bố trí theo chiều ngang: Ban thờ vị tổ cao nhất bao giờ cũng được đặt tại gian chính giữa, ban thờ các vị tổ thấp hơn được bài trí đăng đối ở các gian hai bên.

Phần nội thất, gian giữa thường kiến trúc kiểu mở rộng ra phía tường hậu (chuôi vồ) để xây bệ thờ. Trên bệ thờ đặt các linh toạ hoặc giá gương hoặc (vì tay ngai chạm hình rồng nên còn có tên khác là long ngai). Ngai sẽ là nơi để bài vị tổ tiên hoặc là một ống quyển, hoặc khối hộp chữ nhật sơn son thiếp vàng đứng chứa đựng gia phả, có phủ nhiễu điều bên ngoài. Nơi đây là nơi được xem là linh thiêng nhất, nơi mà linh hồn tổ tiên sẽ ngự trị.

  1. Phần kết cấu bên trong của nhà thờ họ: cột kèo, xà, kẻ, bảy.

Cột là phần đỡ chính, chịu lực toàn bộ khối lượng của công trình đều đặt lên các cột. Cột tròn to và mập, phình ra ở giữa. Tiết diện của cột trụ thường là dáng tròn nhưng cũng có khi dùng cột dáng vuông. Sức nặng công trình được đặt lên cột, cột đặt lên các đế chân cột chứ không chôn cột sâu xuống nền như là làm nhà ở và chính độ chắc chắn, to khỏe của cột làm công trình ổn định và vững vàng.

Cột là phần chịu lực chính cho toàn bộ ngôi nhà, thường có những loại cột sau:

Cột cái: Là những cây cột chính của nhà đặt ở hai đầu nhịp chính tạo chiều sâu cho gian giữa, thân cột tròn, to và mập nhất. Phần nối giữa hai cột cái được gọi là câu đầu.

Cột quân hay cột con: Là phần cột phụ ngắn hơn cột cái, vị trí nằm ở đầu các nhịp phụ giữa hai bên nhịp chính. Về chiều cao của cột con thấp và nhỏ hơn cột cái để tạo ra độ dốc của mái nhà. Nối giữa cột con và cột cái bằng xà nách.

Cột hiên: nằm ở hiên nhà, phía trước, ngắn hơn cột con. Nối giữa cột hiên và cột con bằng kẻ bẩy. Hiện nay xu hướng sử dụng Cột hiên làm bằng đá đang là xu hướng mới.

Phần mái nhà được xây dựng theo các vì nhà, các vì nhà được dựng lên và nối với nhau bằng các xà ngang và xà ngưỡng tạo thành một hình hộp cấu thành lên mái nhà. Vì nhà chính là đơn vị cơ bản khi nói đến kích thước ngôi nhà, giữa hai vì nhà gọi là “gian”. Vì nhà ở mỗi địa phương hay mỗi vùng miền có kết cấu khác nhau để tạo ra nét đặc trưng riêng trong văn hóa tín ngưỡng, tuy nhiên nhìn chung vẫn tuân thủ các quy thức cổ của kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Xà hay còn gọi là các giằng ngang chịu kéo dùng để liên kết các cột chính, cột quân, cột hiên với nhau. Xà gồm các loại xà nằm trong và ngoài khung vuông góc với khung.

  • Xà nằm trong khung sẽ được đặt ở cao độ đỉnh các cột quân liên kết giữa cột cái và cột quân. Những loại xà nằm trong khung bao gồm:
    • Xà lòng cũng gọi là câu đầu hay chếnh: Dùng để liên kết các cột cái với nhau.
    • Xà nách hay tên gọi khác thuận: Dùng để liên kết cột cái với cột quân.
    • Xà nằm ngoài khung gồm có các loại sau:
      • Xà thượng: được đặt ở vị trí liên kết đỉnh cột cái, song song với chiều dài của ngôi nhà.
      • Xà hạ hay còn gọi xà đại: được đặt ở vị trí liên kết các cột cái với cột quân tại cao độ đỉnh của cột quân. Nằm ở gần sát vị trí liên kết giữa xà lòng, xà nách vào cột cái. Xà hạ cũng song song với chiều dài của ngôi nhà.
      • Xà tử thượng (loại xà nằm trên cột quân): Nối các cột quân của khung ở phía trên.
      • Xà tử hạ (loại xà nằm dưới cột quân): ối các cột quân của khung ở phía dưới, tại điểm cao ngay trên hệ cửa bức bàn.
      • Xà ngưỡng: liên kết các cột con tại điểm ngưỡng cửa. Xà ngưỡng có nhiệm vụ đỡ gần như toàn bộ hệ thống cửa bức bàn.
      • Xà hiên: Nối các cột hiên của khung.
  • Thượng lương, còn gọi là đòn dông hay Xà nóc đặt trên đỉnh mái.
    • Kẻ là các loại dầm đơn được bố trí theo phương chéo của mái nhà, kẻ sẽ được gác lên các cột bởi các mối mộng chắc chắn, có các loại kẻ sau:
    • Kẻ ngồi là loại kẻ gác từ cột cái sang cột quân, tạo hệ thống liên kết vững chắc trên mái đỡ.
  • Kẻ hiên là loại kẻ được gác từ cột quân sang cột hiên. Một phần của kẻ hiên được kéo dài đâm xuyên qua cột hiên để đỡ phần chân mái.
  • Bảy hay bảy hậu hoặc bảy hiên: chính là phần dầm nằm trong khung, được gắn vào cột quân phần liên kết phía sau nhà, và có nhiệm vụ đỡ phần mái vẩy. Đối với nhà thờ họ thì dùng tiền kẻ, hậu bảy, đối với các công trình kiến trúc Đình, Chùa do không có cột hiên và 4 mặt mái hiên thông thoáng nên dùng bảy hiên.
  • Hoành, dui, mè đều là các dầm có nhiệm vụ đỡ mái nhà, trong đó hoành là loại dầm chính được đặt nằm ngang theo chiều dài nhà, vuông góc với khung nhà. Dui là phần dầm phụ đặt dọc chiều dốc mái giao với hoành, đặt gối lên hoành. Mè là dầm phụ nhỏ nhất được đặt gối lên dui, song song với hoành, khoảng cách giữa các mè là nhỏ nhất, vừa đủ để lợp ngói.
  • Gạch màn là một loại gạch lá nem làm bằng đất nung, có tác dụng đỡ ngói đồng thời tạo độ phẳng cho mái, chống thấm dột và chống nóng. Gạch màn đặt ngồi trên lớp mè.
  • Ngói mũi hài hay còn gọi là ngói ta hay ngói vẩy rồng cũng được làm bằng đất nung, là phần ngói lợp trực tiếp trên mái mà ta nhìn thấy giúp chống thấm dột và chống nóng, được lợp trên lớp gạch màn.
  • Phần bố trí bên ngoài của nhà thờ họ
  • Cuốn thư đá: Trong thức kiến trúc cổ Việt Nam chạm trổ, hoa văn trang trí là phần rất quan trọng, nó thể hiện tinh thần, nét đặc trưng của từng loại công trình, nét văn hóa của từng vùng miền. Kiến trúc dân gian Việt Nam thường để mộc màu gỗ hay quét sơn ta bảo vệ có màu nâu, thích chạm trổ những hình thù long, ly, quy, phượng hay hoa văn tùng, cúc, trúc, mai, vân mây, hoa sen…

Bậc tam cấp đá: